Pallet gỗ keo là loại tấm kê hàng sản xuất từ gỗ keo lá tràm (tên khoa học Acacia auriculiformis, còn gọi là tràm bông vàng) — loài cây lâm nghiệp trồng rộng khắp Việt Nam với chu kỳ thu hoạch 7-10 năm. Đây là nguyên liệu gỗ chiếm thị phần lớn nhất trong ngành sản xuất pallet gỗ nội địa, áp đảo gỗ thông nhập khẩu về sản lượng nhờ nguồn cung ổn định và giá thành cạnh tranh.
Tuy nhiên, không phải pallet gỗ keo nào cũng như nhau. Chất lượng gỗ keo biến thiên đáng kể theo tuổi cây (gỗ keo 8-10 năm tuổi khác hoàn toàn với gỗ non 5 năm), quy trình sấy và xử lý của nhà sản xuất, và quan trọng nhất — có hay không có chứng nhận hun trùng ISPM 15 đối với hàng xuất khẩu. Bài này phân tích đủ cả ba khía cạnh đó.
Đặc tính kỹ thuật của gỗ keo lá tràm trong sản xuất pallet
Gỗ keo lá tràm trưởng thành (8-10 năm tuổi) có tỷ trọng khoảng 600-700 kg/m³ khi sấy khô — tương đương nhóm gỗ trung bình theo phân loại quốc tế. Theo TCVN 1072-88, gỗ tràm bông vàng được xếp vào nhóm IV trong thang 8 nhóm của Việt Nam. Nhóm IV là nhóm gỗ phổ thông, đủ bền cho ứng dụng kho vận, xây dựng thông thường, không phải nhóm gỗ quý.

Pallet gỗ keo là loại tấm kê hàng sản xuất từ gỗ keo lá tràm (tên khoa học Acacia auriculiformis, còn gọi là tràm bông vàng) — loài cây lâm nghiệp trồng rộng khắp Việt Nam với chu kỳ thu hoạch 7-10 năm. Đây là nguyên liệu gỗ chiếm thị phần lớn nhất trong ngành sản xuất pallet gỗ nội địa, áp đảo gỗ thông nhập khẩu về sản lượng nhờ nguồn cung ổn định và giá thành cạnh tranh.
Tuy nhiên, không phải pallet gỗ keo nào cũng như nhau. Chất lượng gỗ keo biến thiên đáng kể theo tuổi cây (gỗ keo 8-10 năm tuổi khác hoàn toàn với gỗ non 5 năm), quy trình sấy và xử lý của nhà sản xuất, và quan trọng nhất — có hay không có chứng nhận hun trùng ISPM 15 đối với hàng xuất khẩu. Bài này phân tích đủ cả ba khía cạnh đó.
Đặc tính kỹ thuật của gỗ keo lá tràm trong sản xuất pallet
- Gỗ keo lá tràm trưởng thành (8-10 năm tuổi) có tỷ trọng khoảng 600-700 kg/m³ khi sấy khô — tương đương nhóm gỗ trung bình theo phân loại quốc tế.
- Theo TCVN 1072-88, gỗ tràm bông vàng được xếp vào nhóm IV trong thang 8 nhóm của Việt Nam.
- Nhóm IV là nhóm gỗ phổ thông, đủ bền cho ứng dụng kho vận, xây dựng thông thường, không phải nhóm gỗ quý.